Doanh nghiệp không tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động sẽ bị phạt bao nhiêu từ 10/9/2026?

21 tháng 8, 2026 bởi
Doanh nghiệp không tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động sẽ bị phạt bao nhiêu từ 10/9/2026?
CÔNG TY TNHH NATIONWIDE DEVELOPMENT SYSTEM, NDS - Vân Trần
| Chưa có bình luận

Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, từ 10/9/2026, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động sẽ bị phạt bao nhiêu?

Theo khoản 2 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 75 triệu đồng.

Lưu ý : Mức phạt nêu trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân. Do đó, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 150 triệu đồng.

Ngoài việc bị phạt tiền, doanh nghiệp vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tổ chức khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định; Trường hợp người lao động đã tự đi khám, doanh nghiệp phải thanh toán chi phí khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động.


Doanh nghiệp không tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động sẽ bị phạt bao nhiêu từ 10/9/2026? ​​​​​​

Người sử dụng lao động có trách nhiệm gì trong việc khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc cho người lao động?

Theo quy định tại Điều 18 Thông tư 56/2025/TT-BYT, người sử dụng lao động có trách nhiệm sau trong việc khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc cho người lao động:

- Lập, quản lý hồ sơ sức khỏe, hồ sơ bệnh nghề nghiệp và lưu giữ trong suốt thời gian người lao động làm việc tại đơn vị; trả hồ sơ quản lý sức khỏe, hồ sơ bệnh nghề nghiệp (nếu có) cho người lao động khi người lao động chuyển công tác sang cơ quan khác hoặc thôi việc, nghỉ việc, nghỉ chế độ.

- Phối họp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp lập kế hoạch, tổ chức khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc, khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp.

- Cung cấp đầy đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 56/2025/TT-BYT cho người lao động chủ động đi khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.

- Tạo điều kiện cho người lao động được điều trị, phục hồi chức năng theo quy định của pháp luật.

- Hoàn chỉnh hồ sơ và giới thiệu người lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đi khám giám định trong thời gian 20 ngày sau khi điều trị, phục hồi chức năng hoặc sau khi khám phát hiện bệnh nghề nghiệp đối với nhũng bệnh không có khả năng điều trị.

- Thực hiện cải thiện điều kiện lao động, phòng, chống bệnh nghề nghiệp; thực hiện chế độ bảo hộ lao động, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động theo quy định của pháp luật.

- Bố trí sắp xếp vị trí làm việc phù hợp với sức khỏe người lao động.

- Cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu và phối hợp với đoàn điều tra bệnh nghề nghiệp.

- Báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Nội dung khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc bao gồm những gì?

Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 56/2025/TT-BYT nội dung khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc bao gồm:

- Khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc thực hiện theo đúng nội dung của Phiếu khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 56/2025/TT-BYT. Trường họp người lao động đã được khám sức khỏe định kỳ, cấp giấy khám sức khỏe và còn thời hạn sử dụng theo quy định tại Thông tư 32/2023/TT-BYT quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh thì thực hiện khám chuyên khoa theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 56/2025/TT-BYT

- Tùy theo vị trí làm việc của người lao động, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp chỉ định khám chuyên khoa phù hợp với các yếu tố có hại tại vị trí làm việc.

- Thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng (xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng) khi có chỉ định của người hành nghề để phù hợp với các yếu tố có hại tại vị trí làm việc.

(Nguồn: Thư viện pháp luật)

NDS - Thay đổi cách bạn đầu tư 

trong Luật
Đăng nhập để viết bình luận